Bản in

Bàn về một số giải pháp phát huy hiệu quả bền vững của Dự án giáo dục THCS vùng khó khăn nhất(Kỳ 3)

       Kỳ 3. Phát huy hiệu quả bền vững của Dự án Giáo dục THCS vùng khó khăn nhất
          Nói chung, mỗi dự án phát triển KT-XH đều có một mục tiêu nhất định, được bố trí một nguồn đầu tư có hạn, hoạt động trong một phạm vi với một thời gian nhất định. Mỗi DA nhằm thí điểm một số giải pháp để lựa chọn được giải pháp tốt nhất cho những vấn đề thực tiễn đặt ra, nhằm phục vụ cho việc hoạch định chính sách. 


           Dự án giáo dục THCS vùng khó khăn nhất (DA GDTHCS vùng KKN) được thực hiện từ năm 2008 đến năm 2014. Về xây dựng cơ bản (XDCB), các trường THCS và Trung tâm GDTX tham gia             DA được thụ hưởng một khoản đầu tư không lớn. Các chương trình thí điểm của DA đối với một số trường THCS cũng chỉ cấp được gần 800 suất học bổng cho học sinh dân tộc thiểu số ((HS DTTS) và trên 2.800 suất hỗ trợ gạo trong 3 tháng giáp hạt cho HS bán trú quả là chưa thấm vào đâu so với nhu cầu tối thiểu để hỗ trợ học tập, sinh hoạt cho các em. Ngay ở các trường THCS và Trung tâm GDTX được DA đầu tư, nhu cầu hoàn thiện CSVC và hỗ trợ dạy học vẫn còn nhiều vấn đề cấp bách.

         Tuy nhiên, hiệu quả bền vững của một DA không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đầu tư lớn hay nhỏ mà là những gì nó mang lại và đi vào cuộc sống, phát huy tác động lâu dài, thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục sau khi DA kết thúc. Trước hết, hiệu quả DA thể hiện ở kết quả nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đi học, giảm lưu ban, bỏ học, tăng tỷ lệ HS hoàn thành cấp học. Nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đi học phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng cả “dạy chữ” và “dạy người”, giáo dục kỹ năng sống, xây dựng nếp sống văn minh cho HS. Từ chất lượng và hiệu quả giáo dục các thế hệ HS sẽ tác động sâu sắc đến cộng đồng các DTTS. Kết quả đó sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề để thực hiện xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, phát huy hiệu quả các chính sách của Nhà nước về phát triển KT-XH vùng khó khăn. Hiệu quả của các DA cũng được các cơ quan quản lý lấy làm căn cứ để xây dựng các chính sách mới. Vì vậy, trong quá trình thực hiện DA, các cấp quản lý phải hướng mọi nỗ lực vào việc phát huy hiệu quả bền vững của nó.                   Phân tích những điều rút ra được qua 3 năm thực hiện DA và xác định những việc cần làm để phát huy hiệu quả đầu tư, trong thời gian tới Ban Quản lý DA các cấp và các cơ sở giáo dục tham gia DA cần tập trung triển khai một số công tác chủ yếu sau đây:

         1. Khẩn trương thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú và triển khai thực hiện chế độ bán trú để nâng cao hiệu quả giáo dục đối với vùng khó khăn, phát triển về số lượng và chất lượng.

        Tham mưu với các cơ quan có thẩm quyền để triển khai thực hiện Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ HS bán trú và trường PTDTBT và Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02/8/2010 của Bộ GDĐT ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT.

         Việc khẩn trương triển khai thực hiện các văn bản nói trên là công tác rất quan trọng, đáp ứng nhu cầu phát triển GD vùng khó khăn, củng cố vững chắc kết quả phổ cập GDTHCS và tạo điều kiện phát huy hiệu quả đầu tư của DA. Nếu chậm triển khai thực hiện các chủ trương quan trọng này sẽ kéo dài thêm khó khăn cho các trường. Việc xây dựng tiêu chí về điều kiện công nhận HS bán trú để trình UBND cấp tỉnh phê duyệt, việc lập Đề án mở trường và tiến hành thủ tục trình UBND cấp huyện ban hành quyết định thành lập trường PTDTBT là những công việc quan trọng hàng đầu. Phải thực hiện đúng chính sách của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công bằng, công khai, coi trọng việc tuyên truyền giải thích cho cán bộ và nhân dân địa phương, trước hết là cha mẹ HS, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc.

         Trên mỗi địa bàn xã, các cấp quản lý cần theo dõi các chỉ số phát triển giáo dục của toàn xã, từng thôn bản và từng dân tộc, từng giới (nam, nữ): Tỷ lệ trẻ em đi học THCS so với dân số trong độ tuổi, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi, tỷ lệ thanh niên từ 15 đến 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS và tỷ lệ HS sau khi tốt nghiệp THCS tiếp tục học lên cao hơn (THPT, GDTX hoặc trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề). Đối với những thôn bản, các DTTS nếu có sự diễn biến bất thường về các chỉ số về phát triển giáo dục nói trên, cần phân tích nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục. Hiệu quả cuối cùng của chính sách Nhà nước đối với mô hình bán trú là thúc đẩy phát triển giáo dục vùng khó khăn, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục một cách công bằng, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng nam nữ trong việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ học tập để đạt trình độ học vấn phổ cập. Trong quá trình thực hiện chính sách này, các cấp quản lý cần phải bám sát mục tiêu, khắc phục mọi rào cản để phát huy hiệu quả đầu tư, góp phần củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập GDTHCS trên địa bàn.


Các học sinh dân tộc Brâu ở Trường THCS Bờ Y được Dự án cấp học bổng

          2. Quản lý chặt chẽ HS bán trú để nâng cao chất lượng giáo dục.

 

        Việc tổ chức quản lý bán trú của các trường tham gia DA sẽ cung cấp những kinh nghiệm thiết thực để phổ biến rộng rãi trong hệ thống các trường bán trú với quy mô ngày càng được mở rộng ở vùng khó khăn như đã nêu ở trên.
         Trong thời gian qua, công tác quản lý bán trú vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng của các cấp quản lý giáo dục, nhất là cán bộ quản lý các trường THCS. Có địa phương tuy điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ được quan tâm chỉ đạo, công tác quản lý HS bán trú vẫn đạt kết quả tương đối tốt, tạo được lòng tin với nhân dân, như các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên… Nhờ đó, chất lượng giáo dục toàn diện, học lực của HS các trường đó đã bước đầu chuyển biến tích cực.
         Khi đến thăm một số trường tham gia DA ở các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai… chúng tôi phấn khởi khi HS bán trú cho biết các em đã được ăn no, suất ăn cơ bản đủ dinh dưỡng, bếp ăn tập thể gọn gàng, sạch sẽ bảo đảm vệ sinh, đủ nước sinh hoạt. Ngoài giờ lên lớp, các em được các thầy cô giáo hướng dẫn học tập, tập thể dục buổi sáng, tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí và tăng gia cải thiện đời sống. Các trường này đã tạo ra một môi trường sư phạm thân thiện, tích cực, thầy trò nỗ lực giảng dạy, học tập, nhân dân tin tưởng vào nhà trường trong sự nghiệp giáo dục con em họ, chính quyền, các đoàn thể và cộng đồng càng tích cực ủng hộ nhà trường.
        Tuy nhiên, ở không ít địa phương công tác này còn chưa được chỉ đạo thích đáng, đúng với tầm quan trọng của nó, cán bộ quản lý các trường thiếu kinh nghiệm tổ chức, khâu ăn uống do HS tự lo liệu nên thường rất kham khổ, điều kiện ăn ở, sinh hoạt thiếu thốn gây tác động không tốt đến cả thể chất và tinh thần của các em. Trước hoàn cảnh đó, nhiều nơi các thầy cô giáo đã cố gắng hỗ trợ bằng cách hướng dẫn các em nấu ăn, có lúc hỗ trợ tiền mua thực phẩm, mua xăng dầu chạy máy phát điện…. Những sự giúp đỡ đầy lòng nhân ái đó của các thầy cô giáo đối với HS bán trú là rất đáng quý nhưng chỉ là giải pháp tình thế, vấn đề phải được giải quyết bằng chính sách của Nhà nước, với vai trò tổ chức của nhà trường, huy động phần đóng góp hợp lý của gia đình HS và sự hỗ trợ của cộng đồng.
           Qua kinh nghiệm của các trường, công tác quản lý HS bán trú phải giải quyết đồng bộ “ba quản” sau đây:

 

         a) Quản lý tốt học tập ngoài giờ lên lớp để nâng cao chất lượng giáo dục.
Cần mạnh dạn đề ra mục tiêu phấn đấu không để HS bán trú bị xếp loại hạnh kiểm từ trung bình trở xuống, xếp loại học lực yếu kém, không để các em lưu ban, bỏ học. Nói chung, HS vùng khó khăn, nhất là các em xa trường hàng ngày đi học về nhà ít có thời gian tự học để đào sâu, phát triển và củng cố bài đã học trên lớp, một số lại đi học không chuyên cần, có bài được học có bài không. Do vậy, học lực của các em đuối dần và là nguyên nhân chính dẫn đến bỏ học. Đối với HS bán trú, điều thuận lợi là có thêm thời gian tự học với sự hướng dẫn của thầy cô giáo, của bạn bè. Nhà trường cần kiểm tra phân loại học lực của HS bán trú để lập kế hoạch phụ đạo giúp đỡ HS học lực yếu kém và bồi dưỡng HS khá giỏi sát đối tượng, hạn chế tổ chức học đồng loạt ngoài giờ chung cho tất cả HS kém hiệu quả.
       b) Tổ chức đời sống vật chất, sinh hoạt nội trú và giáo dục lao động.
-     Trước hết, phải phấn đấu tổ chức bếp ăn tập thể, chọn người phục vụ có tinh thần thương yêu HS, tận tụy, thân thiện và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, cần chia thức ăn theo suất cho các em, bữa ăn phải đủ no và nâng cao chất lượng trong khả năng cho phép, phục vụ đủ nước uống hợp vệ sinh. Lãnh đạo nhà trường cần phân công cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao phụ trách công tác đời sống vật chất và định kỳ rút kinh nghiệm, thực hiện chế độ công khai chi phí, biểu dương mọi cố gắng và chấn chỉnh các biểu hiện thiếu sót. Bố trí sử dụng hợp lý lao động của các em trong khâu phục vụ ăn uống với sự hướng dẫn của các thầy cô giáo và nhân viên.
- Tổ chức quản lý tốt nền nếp sinh hoạt cho HS bán trú. Phải xây dựng nội quy khu nội trú, định rõ giờ giấc học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tập thể dục buổi sáng, luyện tập thể thao hàng ngày và sinh hoạt văn nghệ. Thông qua công tác quản lý nền nếp sinh hoạt, giáo dục những kỹ năng sống cơ bản (làm chủ bản thân, ứng xử trong tập thể, sử dụng thời gian theo kế hoạch, giao tiếp bằng hành vi và ngôn ngữ, rèn luyện và giữ gìn sức khỏe, bảo vệ bản thân…). Thực tế cho thấy, việc buông lỏng quản lý nền nếp sinh hoạt sẽ có nhiều hậu quả khó lường về đạo đức, lối sống và trật tự, an toàn. Nhà trường cần phối hợp với cơ quan Y tế lập phương án chủ động phòng chống dịch bệnh và giữ gìn vệ sinh.
-      Tổ chức các hoạt động lao động công ích vừa sức với độ tuổi HS thiết thực phục vụ đời sống là việc làm hết sức cần thiết, nhất là đối với HS bán trú. Trước hết, ngoài các hoạt động lao động công ích chung cho toàn trường, tùy theo điều kiện mỗi nơi, cần tổ chức cho HS bán trú tăng gia cải thiện bữa ăn bằng cách trồng rau sạch, chăn nuôi hợp vệ sinh nếu có điều kiện (có thể mượn đất, khai thác nguồn nước của nhân dân, của địa phương). Cần tổ chức cho các em thi nấu ăn, thi gấp chăn màn sắp xếp nơi ở, thi dọn vệ sinh, thi trồng hoa, trồng cây bóng mát, trồng cây chống xói lở đất, sửa sang lối đi, tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng… Gắn công tác quản lý bán trú với tổ chức phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”… góp phần làm cho bộ mặt nhà trường thực sự sạch, đẹp.
        Thông qua việc tổ chức lao động công ích,giáo dục cho các em ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, sử dụng năng lượng tiết kiệm, giáo dục lòng yêu thiên nhiên, rèn luyện kỹ năng lao động, kỹ năng sống. Từ đó, hình thành cho các em nếp sống văn minh, phát huy ảnh hưởng lâu dài đến cộng đồng, làm cho nhà trường thực sự là trung tâm văn hóa của địa phương.
          c) Tổ chức đời sống văn hóa tinh thần cho HS bán trú.
        Mục tiêu giáo dục toàn diện đòi hỏi phải trang bị cho HS một số hiểu biết và kỹ năng hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Trong thực tế, việc bố trí thời khóa biểu hầu như chỉ dành cho dạy học các môn văn hóa, bên cạnh đó lại thiếu GV các môn mỹ thuật, âm nhạc, thể dục thể thao, thiếu nhạc cụ, sân bãi nên khó tổ chức cho các em hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Đối với HS bán trú, cơ hội dành cho các hoạt động này có thuận lợi hơn. Các cấp quản lý giáo dục cần ưu tiên bố trí GV và đầu tư CSVC để đẩy mạnh các hoạt động này. Các trường cần phân công GV có năng lực và nhiệt tình đứng ra tổ chức các hoạt động, phát huy thế mạnh về khả năng tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và trò chơi dân gian của HS các DTTS.

         d) Về tổ chức thực hiện, các trường cần thành lập Ban Quản lý bán trú do Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ trách và có sự phân công trách nhiệm rõ ràng cho các thành viên. Một vấn đề có tính nguyên tắc là mặt công tác nào cũng phải có GV phụ trách và có nhóm HS cốt cán; nhân tố nào, mặt tốt nào cũng được biểu dương, tiêu cực nào cũng bị phê phán. Hiệu trưởng và GV đóng vai trò tổ chức, hạn chế bao biện làm thay, GV chủ trì tổ chức các hoạt động với sự tham gia của một nhóm HS cốt cán để hình thành năng lực tự quản cho các em. Được rèn luyện như vậy, sau khi rời ghế nhà trường nhiều HS có thể phát huy vai trò tích cực khi tham gia các hoạt động xã hội.

 

Các học sinh dân tộc Lô Lô ở Trường THCS Thị trấn Mèo Vạc được Dự án cấp học bổng
         đ) Về công tác quản lý chỉ đạo, các Ban QLDA cấp tỉnh có các trường bán trú cần tổ chức hội thảo về chủ đề này để nâng cao nhận thức, phổ biến những kinh nghiệm tốt của các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường quản lý tốt trong thời gian vừa qua. Định kỳ tổ chức kiểm tra chéo, tiến hành sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm quản lý, nhân điển hình, động viên những tập thể và cá nhân làm tốt, phê phán những tập thể, cá nhân buông lỏng quản lý.
         3. Phối hợp các nguồn đầu tư để hoàn thiện CSVC cho các trường.
      Nhà nước ngày càng ban hành nhiều chính sách ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS thông qua các Chương trình, Đề án, DA cụ thể. Trong đó, quan trọng nhất là Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ.
        Tuy đã được tham gia DA, nhưng nhìn chung CSVC các trường chưa đồng bộ, còn thiếu thốn nhiều thứ đây cũng là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả đầu tư (ví dụ, không được cấp đủ điện, nước làm cho không sử dụng được phòng học bộ môn, thiết bị nghe nhìn, thiết bị công nghệ thông tin…). Do vậy, cần tranh thủ các nguồn đầu tư khác để từng bước hoàn thiện CSVC cho các trường tham gia DA. Các Ban Quản lý DA cấp tỉnh cần thống kê cụ thể các hạng mục cần đầu tư bổ sung của từng trường, trước hết là những nhu cầu thiết yếu. Trên cơ sở đó, đưa vào kế hoạch bố trí đầu tư bằng kinh phí được quy định tại Quyết định 85/2010/QĐ-TTg nói trên và các Chương trình, Đề án, DA khác (Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP nói trên, Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình cấp lưới điện nông thôn, Chương trình kiên cố hóa hệ thống giao thông nông thôn…) để chủ động đề nghị với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trước hết, cần tranh thủ các nguồn đầu tư xây dựng hạ tầng như cấp nước, điện lưới, làm đường đi, sân chơi bãi tập, xây kè chống sạt lở đất, cấp đất mở rộng khuôn viên các trường theo quy định của chuẩn quốc gia...
         Lời kết: Kết quả thực hiện Dự án GDTHCS vùng khó khăn nhất ngoài những đóng góp cụ thể, còn góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong việc hoạch định chính sách lâu dài nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục đối với địa bàn này. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả bền vững của DA càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Làm thế nào để thực hiện điều đó là một câu hỏi cần có lời giải đáp đầy đủ và đúng đắn. Là những người cùng chung sức tham gia thực hiện DA, chúng ta cùng thảo luận và tìm cách trả lời và góp phần biến những ý tưởng đó thành hiện thực. Làm được như vậy là đã góp phần thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc. Chúng tôi viết bài này nhằm nêu một chủ đề để các cơ quan quản lý giáo dục, các thầy cô giáo và những người quan tâm đến sự nghiệp giáo dục cùng thảo luận tiếp./.
Theo Ông Lê Quán Tần, Chuyên gia tư vấn về QLGD, 8/2011